Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Ca dao tục ngữ



Ca dao tục ngữ

1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai


2. Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay cao


3. Ai đi bờ đắp một mình
Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân


4. Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vời đầy



5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa
Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào
Ai đi sục sịch ngoài hàng rào
Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa


6. Ai kêu là rạch, em gọi là sông
Phù sa theo nước chảy mênh mông
Sông ơi, thấm mát đời con gái
Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng


7. Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng


8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ
Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương


9. Ai mà nói dối cùng ai
Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng
Ai mà nói dối cùng chồng
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao


10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì
Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba
Ai mà không muốn làm Ba?
Tôi đây xin hứa mình là về thứ tư
Thằng tứ nó chưa đã nư
Thôi thì đành chịu mình là thứ năm
Có thằng ánh mắt hờn căm
Thứ Sáu tôi nhận lăm lăm nỗi gì
Cô kia nạt nộ sân si
Tôi nhận thứ bảy chả ti chút nào
Mười đứa xúm lại ồn ào
Tôi nhường thứ tám anh nào nhận cho
Thứ chín thì cũng chẳng to
Khối thằng muốn được ép o xuống mười
Ngẩm lại thì cũng nực cười
Chơi với chín đứa mình mười cũng xong.

11. Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần


12. Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sòng sọc nó thì theo sau


13. Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong


14. Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Ai ơi chớ vội cười nhau
Nhìn mình cho tỏ trước sau hãy cười


15. Ai ơi chẳng chóng thì chầy
Có công mài sắt, có ngày nên kim


16. Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đốn thì vác cả cành lẫn cây


17. Ai ơi đã quyết thì hành
Đã đan thì lặn, tròn vành mới thôi


18. Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu


19. Ai ơi đừng lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Hay nằm thời có võng đào
Dài lưng thời có áo chào nhà vua
Hay ăn thời có gạo kho
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm


20. Ai ơi đừng lấy pháo binh
Nửa đêm nó bắn rung rinh cái giường
21. Ai ơi ở chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai


22. Ai ơi chí ở cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
Dù ai nói Đông nói Tây,
Ta đây vẫn vững như cây giữa rừng


23. Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây


24. Ai về ai ở mặc ai
Áo dà ở lại, đến mai hãy về
25. Ai về ai ở mặc ai
Thiếp như sầu đượm thắp hoài năm canh


26. Ai về Bình Định mà coi
Đàn bà cũng biết múa roi, đi quờn


27. Ai về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười


28. Ai về em gởi bức thơ
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu


29. Ăn cây sung ngồi gốc cây sung
Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm


30. Ăn cháo, đá bát
31. Ăn một bát cháo, chạy ba quảng đồng


32. Ăn bữa giỗ, lỗ bữa cày


33. Ăn cá nhả xương, ăn đường nuốt chậm


34. Ăn cây nào, rào cây nấy


35. Ăn chưa no, lo chưa tới


36. Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không nhạc


37. Ăn cơm có canh như tu hành có bạn


38. Ăn cơm mới, nói chuyện cũ


39. Ăn dầm, nằm dề


40. Ăn đi giỗ trước, lội nước theo sau

41. Ăn lắm thì hết miếng ngon
Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ


42. Ăn đong cho đáng ăn đong
Lấy chồng cho đáng hình dong con người


43. Ăn được, ngủ được là tiên
Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo


44. Ăn sao cho được mà mời
Thương sao cho được vợ người mà thương


45. Ăn tàn ăn mạt, ăn nát cửa nhà
Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi


46. Ăn thì ăn những miếng ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.


47. Ăn thì vùa, thua thì chạy


48. Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Uống nước nhớ người đào giếng


49. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng


50. Ầu ơ... Anh về bán đất cây da
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
51. Ầu ơ... Bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố học hành
Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê

52. Ầu ợ.. Cháu ơi cháu ngủ cho lâu
Mẹ cháu đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Tròng cổ mang về bà cháu mình ăn

53. Ầu ơ... Chim quyên lẻ bạn, than thở một mình
Bây giờ mình lẻ bạn (ơ 1 mình, mình thở than

54. Ầu ơ... Em tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngày rày mang ơn

55. Ầu ơ... Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua

56. Ầu ơ... Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào má coi
Ầu ơ... Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt cá hái rau mẹ dùng
Bắt cá, cá lội trên đàng
Hái rau rau héo, hỏi sao mẹ dùng hả con?...

57. Ầu ơ... Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ
Sao anh không học đặng nhờ tấm thân?

58. Ầu ơ... Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Liệu bề đát được thì đương
Đừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê

59. Ầu ơ... Ví dầu cá bống đánh đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu

60. Ầu ơ... Ví dầu cá lóc nấu canh
Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm

Ầu ơ... Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra bậu lấy ông câu
Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu
Kho tiêu kho ớt kho hành
Kho ba lượng thịt để dành mẹ ăn

62. Ầu ơ... Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

63. Anh buồn có chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya

64. Anh đánh thì em chịu đòn
Tánh em hoa nguyệt mười con chẳng chừa

65. Anh đã có vợ hay chưa?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh

66. Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài
Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm

67. Anh đi ba bữa anh về
Rừng sâu nước độc anh đừng ở lâu

68. Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng

69. Anh đi em một ngó chừng
Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng sâu
Anh đi em một ngó chừng
Ngó trăng trăng lặn, ngó rừng rừng sâu

70. Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đời
Anh đi kiệu lộng ba bông
Bỏ em cấy lúa đồng không một mình

72. Anh gặp em hồi đứng bóng đang trưa
Trách trời sao vội tối, anh chưa phân cạn lời

73. Anh em bốn bể là nhà
Người dưng khác họ vẫn là anh em

74. Anh Hai, anh tính đi "mô" ?
Tôi đi chợ Tết, mua khô cá thiều

75. Anh hít cái bông bưởi, anh còn hửi cái bông cam
Anh thích nấm tràm, anh lại ham nấm mối

76. Anh lấy được em bỏ công ao ước
Em lấy được anh thoả dạ ước ao

77. Anh mau thức dậy học bài
Mong cho anh sớm thành tài
Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha
Sau là không phụ tình ta bao ngày

78. Anh này rõ khéo làm ăn
Đi cày chẳng biết, chít khăn mượn người

79. Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm
Nằm đêm nghĩ lại nát bằm lá gan

80. Anh ơi, anh giận em chi
Anh muốn vợ bé, em thì lấy cho
81. Anh ơi anh ở lại nhà
Thôi đừng vui thú nguyệt hoa chơi bời
Còn tiền kẻ rước, người mời
Hết tiền, chẳng thấy một người nào ưa

82. Anh ơi đi lính cho Tây
Con dại cả bầy bỏ lại ai nuôi

83. Anh ơi em chẳng lấy đâu
Anh đừng cạo mặt, nhổ râu tốn tiền

84. Anh ơi nơm cá xong chưa
Xuồng em neo đợi chờ trưa anh về

85. Anh say rượu ngày mai sẽ tỉnh
Kẻ say tình, mãi không tỉnh đâu em

86. Anh ơi uống rượu thì say,
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo

87. Anh thương em, thương quấn thương quít
Anh bồng ra gốc mít, anh bồng khít gốc chanh
Anh bồng quanh đám sậy, anh bồng bậy vô mui
Anh bồng lui sau lái, anh bồng ngoáy trước mũi

88. Anh thương em trầu hết lá lươn
Cau hết nửa vườn, cha với mẹ nào hay
Dầu mà cha mẹ có hay
Nhứt đánh nhì đày, hai lẽ mà thôi
Gươm vàng để đó em ôi
Chết thì chịu chết, lià đôi anh không lià

89. Anh tỷ như phận anh
Chẳng thà ở lều tranh
Như thầy Tăng, thầy Lộ
Cũng không ham mộ,
Như Vương Khải, Thạch Sùng
Đạo người giữ vẹn, bần cùng sá chi

90. Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em
91. Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc ở đời với anh

92. Anh về đô thị hôm nao
Gió lay cây choại, lệ trào mi em

93. Anh về em chẳng dám đưa
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười

94. Anh về làm rể ăn cơm với cá
Em về làm dâu ăn rau má với rạm đồng

95. Anh với em mà tựa vai kề
Nay dù em có lạc Sở sang Tề
Thì em cũng nên gởi thơ về 1 lá đặng cho anh hay

96. Ao có bờ, sông có bến

97. Ao sâu thì lắm ốc nhồi,
Chồng mình lịch sự nửa người nửa ta
Ghen lắm thì đứt ruột ra,
Chồng mình sẽ tới tay ta phen này

98. Áo dài, chớ tưởng là sang,
Bởi không áo ngắn, mới mang áo dài

99. Áo mặc sao qua khỏi đầu

100. Áo anh đứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Ba cô đội gạo lên chùa
một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
sư về sư ốm tương tư
ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
ai làm cho dạ sư sầu
cho ruột sư héo như bầu đứt dây

2. Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi

3. Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra

4. Ba năm ở với người đần
Chẳng bằng một lúc ghé gần người khôn

5. Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan

6. Ba tiền một khúc cá buôi
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già

7. Ba trăng là mấy mươi hôm,
Mai Nam nắng trước, chiều Nồm quạnh sau
Chàng ơi đừng phụ khó tham giàu
Khi lành tôn trượng, khi đau phụ phàng

8. Bà già đeo bị hạt tiêu
Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay

9. Bạc sao bạc chẳng vừa thôi
Để cho nước chảy hoa trôi lỡ làng

10. Bà con khó xin đừng bỏ
Kẻ lạ dầu sang cũng chớ đua
Bà già đã tám mươi tư
Ngồi trong cửa sổ gởi thư lấy chồng

12. Bà già đi chợ Cầu Bông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Xem rằng ông mới bói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn

13. Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu

14. Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây

15. Bạn bè là nghĩa tương tri
Sao cho sau trước vẹn bề mới nên

16. Bạn nghèo thuở trước chớ quên
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình

17. Bàn tay còn có ngón dài, ngón vắn,
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay

18. Bạn vàng lại gặp bạn vàng
Long Lân Quy Phụng một đoàn tứ linh

19. Bánh cả mâm, sao em kêu rằng bánh ít?
Trầu cả chợ, sao em gọi là trầu không?
Trai nam nhi không đối đặng
Gái má hồng xin thử đối xem!

20. Bao giờ cho đặng thảnh thơi,
Tay têm thuốc cống, miệng mời lang quân
Bao giờ cho đến tháng Mười
Thổi nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn

22. Bao giờ cho đến tháng Năm
Thổi nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn

23. Bao giờ mưa thuận gió hòa
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng

24. Bao giờ cạn rạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền

25. Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta

26. Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ trích đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước, thì ta lấy mình

27. Bao giờ cho khỉ đeo hoa
Cho voi đánh sáp, cho gà nhuộm răng

28. Bao giờ nước ngọt đường cay
Gánh vừa lon gạo thì thằng Tây ở tù

29. Bao giờ sen mọc Biển Đông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi

30. Bao phen lên ngựa ra về
Cầm cương níu lại xin đề câu thơ
Câu thơ ba bốn câu thơ
Câu đợi, câu chờ, câu nhớ, câu mong
31. Bao phen quạ nói với diều
Sau nhà cô Huệ có nhiều gà con

32. Bậu chê qua ở rẫy ăn còng
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm

33. Bây giờ gặp phải hội này
Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm
Khi trời gió bão ầm ầm,
Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba

34. Bấy lâu nay em ở ven rừng,
Chim kêu, vượn hú, em nửa mừng nửa lo

35. Bé nhưng mà bé hạt tiêu
Bé cay bé đắng bé xiêu lòng người

36. Bên sông thanh vắng một mình
Có ông ngư phủ biết tình mà thôi

37. Biên Hòa có bưởi Thanh Trà
Thủ Đức nem nướng, điện Bà Tây Ninh

38. Bớ chiếc ghe sau chèo mau em đợi,
Cho khỏi khúc sông này bờ bụi tối tăm

39. Bóng trăng anh tưởng bóng đèn
Bóng cây anh ngỡ bóng thuyền em sang

40. Bông chi thơm lạ thơm lùng
Thơm cây, thơm lá, người trồng cũng thơm

Bữa ăn có cá cùng canh
Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng

42. Buồn chẳng muốn nói, gọi chẳng muốn trông
Tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáo

43. Buồn tình cha chả buồn tình
Không ai nói chuyện với mình cho vui

44. Bảy với ba tính ra một chục
Còm tam tứ lục tính lại cửu chương
Liệu bề đát được thì thương
Đừng gầy rồi bỏ, thế thường cười chê

45. Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm

46. Bắt con ngựa ngựa ô, ngựa ô tra khớp
Lục lạc đồng đen, em mang hài tốt
Ngấy ngây muôn dặm đường dài
Cá rô róc rách ruộng cày
Ai ghẹo gì mày hỡi cá rô con?

47. Bắc thang lên hỏi ông trời
Bỏ tiền cho gái có đòi được chăng!

48. Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưả
Mận hỏi thời đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!

49. Bây giờ tui biết phận tui
Chỉ là cơm nguội phòng khi đói lòng

50. Bấy lâu vắng mặt khát khao
Bây giờ thấy mặt muốn cào mặt ra
51. Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn

52. Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn
Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay

53. Bên kia sông, ai lập kiểng chùa Tân Thiện
Bên này sông, qua lập cái huyện Hà Đông
Cái huyện Hà Đông để cho ông Bao Công xử kiện
Cái chuà Tân Thiện nhiều kẻ tu hành
Chim kêu dưới suối trên cành
Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ quả

54. Bên này sông em bắc cây cầu mười tấm ván
Bên kia sông em lập cái quán mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi anh

55. Bến em có gốc dừa tơ
Đêm trăng em đứng em chờ đợi ai

56. Biết bao gái đẹp như hoa
Vỡ trâm, gãy xuyến, chìm thoa, rơi vàng

57. Bồ câu bồ các
Tha rác lên cây
Gió đánh lung lay
Là vua Cao Tổ
Những người mặt rỗ
Là ông Tiêu Hà
Nước chảy đường qua
Là dượng Tào Tháo
Đánh bạc cầm áo
Là anh Trần Bình

58. Biết nhau từ thuở buông thừng
Trăm chắp nghìn nối, xin đừng quên nhau

59. Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe

60. Biển sâu, con cá lớn vẫy vùng
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng bay cao

61. Biển trời đua sắc vẫy vùng
Nữ nhi sánh với anh hùng được nao!

62. Biểu về nói với ông câu
Cá ăn thì giựt, để lâu hết mồi

63. Bì phấn với vôi
Bì con ông lái với tôi chân sào

64. Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê

65. Bông sứ cùng với bông lài
Tui quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn

66. Bốn ông mà ngồi một bàn
Cùng uống một chén, cùng than một lời

67. Bờ sông lại lở xuống sông
Đàn bà mà lấy đàn ông, thiệt gì

68. Bởi anh đành đoạn
Đốn ngọn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Thương anh em phải sớm hôm

69. Bởi anh trăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài

70. Buồn ngủ lại gặp chiếu manh
Hay ăn, làm biếng gặp anh đứng đường

71. Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai

72. Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai
Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta
Buồn về một nỗi tháng ba
Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ
Buồn về một nỗi tháng tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn về một nỗi tháng năm
Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu

73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt
Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo
Lựu xa đào, lựu xéo đào xiên
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền
Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn

75. Bươm bướm mà đậu cành bông
Đã dê con chị, lại bồng con em

76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng
Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời
Canh hai vật đổi sao dời
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung
Canh ba cờ phất trống rung
Mặc ai ai thẳng ai dùn mặc ai
Canh tư hạc đậu cành mai
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh chầy tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu không

78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm
Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ
Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng
Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho loan với phượng đôi hàng biệt ly

80. Bực mình chẳng muốn nói ra
Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

  1. Canh khuya thắp chút dầu dư
    Tim loan cháy lụn thiếp sầu tư một mình

    2. Cau già dao bén thì ngon
    Người già trang điểm phấn son cũng già

    3. Cá bống còn ở trong hang
    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu
    Ta về, ta sắm cần câu
    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    4. Cá kèo mà gặp mắm tươi
    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    5. Cá không ăn muối cá ươn
    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

    6. Cá nục nấu với dưa hồng
    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    7. Cá tươi xem lấy đôi mang
    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
    Tóc mai sợi vắn sợi dài
    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
    8. Cách sông mới phải luỵ thuyền
    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    9. Cái cò lặn lội bờ sông
    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    10. Cái cò mày đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
    Ông ơi ông vớt tôi nao
    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng
    Có sáo, thì sáo nước trong
    Đừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    11. Cái kiến mày kiện củ khoai
    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu
    Nhà tao chín đụn, mười trâu
    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân
    Cầu này là cầu ái ân
    Một trăm con gái rửa chân cầu này
    Có rửa thì rửa chân tay
    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    12. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
    Anh thương em cho bạc cho tiền
    Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    13. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
    Anh có thương em, xin sắm một con đò
    Để em qua lại mua cò gởi thơ

    14. Cái ngủ mày ngủ cho lâu
    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    15. Cái ngủ mày ngủ cho say
    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    16. Cái răng cái tóc là góc con người

    17. Cát bay vàng lại ra vàng
    Những người quân tử dạ càng đinh ninh
    Đinh ninh ta để dạ này
    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    18. Cà Mau hãy đến mà coi
    Muỗi kêu như sáo thổi
    Đỉa lội lềnh như bánh canh

    19. Càng già càng dẻo càng dai
    Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường

    20. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    21. Cầm vàng mà lội qua sông
    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    22. Cần Thơ là tỉnh
    Cao Lãnh là quê
    Anh đi lục tỉnh bốn bề
    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    23. Cậu cai nón dấu lông gà
    Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
    Ba năm được một chuyến sai
    Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
    Cậu cai buông áo em ra
    Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa

    24. Cây cao bóng mát không ngồi
    Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây

    25. Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn
    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    26. Cây khô không dễ mọc chồi
    Mẹ già không thể sống đời với con

    27. Cây không trồng nên lòng không tiếc
    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    28. Cây trên rừng hoá kiểng
    Cá dưới biển hoá long
    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong
    Anh đi lục tỉnh giáp vòng
    Đến đây trời khiến đem lòng thương em

    29. Cây vông đồng không không trồng mà mọc
    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    30. Cây xanh lá đỏ hoa vàng
    Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi
    (đố là gì? Cây rau sam)

    31. Cây xanh thời lá cũng xanh
    Cha mẹ hiền lành để đức cho con
    Mừng cây rồi lại mừng cành
    Cây đức lắm chồi, người đức lắm con
    Ba vuông sánh với bảy tròn
    Đời cha vinh hiển đời con sang giàu

    32. Cậu cai buông áo em ra
    Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
    Chợ trưa dưa nó héo đi
    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    33. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại
    Bắt anh ra treo tại nhành dương
    Biểu từ ai, anh từ đặng
    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    34. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    35. Chanh chua thì khế cũng chua
    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    36. Cháu ơi cháu ngủ cho ngon
    Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai

    37. Chàng ôi, giận thiếp mà chi
    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    38. Chàng về để áo lại đây
    Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    39. Chàng về để áo lại đây
    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    40. Chặt không đứt, bứt không rời
    Phơi không khô, chụm không cháy
    (Đố là con gì? Con sam)

    41. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền
    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    42. Chân đi ba bước lại dừng
    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn
    Đi buôn cho đáng đi buôn
    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa
    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    44. Chẻ tre bện sáo cho dầy
    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    45. Chê đắng chê hôi
    Đã chê xôi không dẻo
    Lại chê kẹo không ngọ

    46. Chê đây, lấy đấy sao đành
    Em chê cam sành , lấy phải quít hôi
    Quít hôi bán một đồng mười
    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    47. Chết trước được mồ, được mả
    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    48. Chiếc khăn cô đội trên đầu
    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi
    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời
    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    49. Chiếu bông mà trải góc đền
    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    50. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu
    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ
  2. Chiều chiều chim vịt kêu chiều
    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    52. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
    Nhớ người áo trắng khăn điều vắt vai

    53. Chiều chiều, ông chánh về Tây
    Cô ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn
    Thông ngôn, ký lục bạc chục không màng
    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    54. Chiều chiều ông Lã Đông Tân
    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    55. Chiều chiều ra đứng ngõ sau
    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    56. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi
    Sống làm chi mà chia ly thục nữ
    Thác cho rồi đặng chữ thuỷ chung

    57. Chiều chiều vịt lội cò bay
    Ông voi bẻ mía chạy n_ vô rừng
    Vô rừng bứt một sợi mây
    Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    58. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    59. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    60. Chim khôn mắc phải lưới hồng
    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng
    Anh rằng anh chẳng lấy vàng
    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    61. Chim quyên ăn trái nhãn lồng
    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    62. Chim quyên xuống đất ăn trùng
    Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than

    63. Chim trời ai dễ đếm lông
    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    64. Chim xa cành còn thương nhớ cội
    Người xa người tội lắm người ơi!
    Chẳng thà không gặp thì thôi
    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    65. Chính chuyên chết cũng ra ma
    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    66. Chì khoe chì nặng hơn đồng
    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    67. Chị kia bới tóc đuôi gà
    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâủ
    Nhà tui ở dưới đám dâu
    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    68. Chị lấy chồng em gặm giò heo
    Giò heo chị để chị treo
    Em lấy giò mèo em gặm em chơi

    69. Chỉ đâu mà buộc ngang trời
    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    70. Chỉ đâu mà buộc ngang trời
    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    71. Cho em trở lại đường xưa
    Để em tìm lại gốc dừa cạnh ao
    Lời anh âu yếm chiều nào
    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    72. Chồng chài, vợ lưới con câu
    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    73. Chồng chung chồng chạ
    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    74. Chồng già vợ trẻ là duyên
    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    75. Chồng già vợ trẻ là tiên
    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    76. Chồng giận thì vợ làm lành
    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì
    Thưa anh, anh giận em chi
    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    77. Chồng thấp mà lấy vợ cao
    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    78. Chồng thấp vợ cao
    Như đôi đũa lệch biết sao so bằng

    79. Chơi hoa cho biết mùi hoa
    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    80. Chuối non giú ép chát ngầm
    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    81. Chuột kêu chút chít trong rương
    Em đi co kheó đụng giường mẹ hay

    82. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều
    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    83. Chuyện người mặc kệ người lo
    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    84. Chừng nào đá nổi rong chìm
    Muối chua chanh mặn anh tìm được em

    85. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
    Còn như yêu vụng nhớ thầm
    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    86. Con ai đem bỏ chùa này
    A di đà Phật, con thầy thầy nuôi

    87. Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc
    Bơi dọc lội ngang không chắc trở về

    88. Con cá đối nằm trên cối đá
    Chim đa đa đậu nhánh đa đa
    Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
    Mai sau cha yếu mẹ già
    Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng?

    89. Con cá mày ở dưới ao
    Tao tát nước vào mày sống được chăng

    90. Con cá trong lờ đỏ hoe con mắt
    Con cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô

    91. Con chim chích choè
    Nó đậu cành chanh
    Tôi ném hòn sành
    Nó quay lông lốc
    Tôi làm một chốc
    Được ba mâm đầy
    Ông thầy ăn một
    Bà cốt ăn hai
    Cái thủ, cái tai
    Tôi đem biếu chúa
    Chúa hỏi chim gì
    Con chim chích chòe...

    92. Con chim mày ở trên cây
    Tao đứng dưới gốc mày bay đường nào

    93. Con chim nho nhỏ
    Đỏ mỏ xanh lông
    Đỏ mồng xanh kiếng
    Nó kêu xao xuyến
    Nhiều tiếng lạ lùng
    Kêu sao cho quân tử nghe cùng
    Phải duyên thì kết, phải lòng thì thương

    94. Con có cha mẹ đẻ
    Không ai ở lỗ nẻ chui lên

    95. Con cóc là cậu ông trời
    Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho
    Con cóc là cậu thầy nho
    Hễ ai đánh chết trời co quan tiền

    96. Con công hay múa
    Nó múa làm sao
    Nó rụt cổ vào
    Nó xoè cánh ra
    Nó đậu cành đa
    Nó kêu ríu rít
    Nó đậu cành mít
    Nó kêu vịt chè
    Nó đậu cành tre
    Nó kêu bè rau muống
    Nó đậu dưới ruộng
    Nó kêu tầm vông
    Con công hay múa

    97. Con đỉa đeo bà
    Con gà cục tác
    Mỏ nhác cầm chèo
    Con mèo cầm lái
    Con rái chạy buồm
    Con tôm tát nước...

    98. Con gái giống cha giàu ba họ
    Con trai giống mẹ khó ba đời

    99. Con gái mà gả chồng xa
    Một là mất giỗ hai là mất con
    Con gái mà gả chồng gần
    Có chén canh cần nó cũng đem cho

    100. Con gái ông Bang che dù che lọng
    Con gái bà bống thổi lửa tắt đèn
  3. 101. Con hơn cha là nhà có phúc

    102. Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà

    103. Con không cha như nhà không nóc
    Con không mẹ con khóc tối ngày

    104. Con không chê cha mẹ khó
    Chó không chê chủ nhà nghèo

    105. Con kiến mày ở trong nhà
    Tao đóng cửa lại mày ra đường nào?

    106. Con lên ba cả nhà học nói

    107. Con mèo mà trèo cây cau
    Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
    Chú chuột đi chợ đường xa
    Mua mắm, mua muối giỗ cha con mèo

    108. Con mèo con chuột có lông
    Cây tre có mắt, nồi đồng có quai

    109. Con nhà lính, tính nhà quan

    110. Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh

    111. Con quốc kêu réo rắt trên ngàn
    Gà rừng táo tác gọi con tha mồi
    Lạnh lùng thay láng giềng ôi
    Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều

    112. Con người có tổ có tông
    Như cây có cội, như sông có nguồn

    113. Con ơi học lấy nghề cha
    Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm

    114. Con ơi nhớ lấy câu này
    Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

    115. Con sâu làm rầu nồi canh
    Một người làm xấu, nhơ danh cả nhà

    116. Con sông bên lở, bên bồi
    Bên lở thì đục, bên bồi thì trong
    Sông kia nước chảy đôi dòng
    Biết rằng bên đục, bên trong bên nào!

    117. Con út con ít như mít chín cây
    Gái cũng như trai, ai ai cũng chuộng

    118. Con vua thì được làm vua
    Con sãi ở chùa thì quét lá đa

    119. Có cây mới có dây leo
    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    120. Có cha có mẹ thì hơn
    Không cha không mẹ như đờn đứt dây¨

    121. Có chồng mà chẳng có con
    Khác gì hoa nở trên non một mình

    122. Có chum cá mới ở đià
    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    123. Có con mà gả chồng gần
    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha
    Có con mà gả chồng xa
    Ba phần ruộng trẻo chẳng ma nào cày

    124. Có công mài sắt có ngày nên kim

    125. Có của thì có mẹ nàng
    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa
    Chị là con gái nhà giầu
    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen
    Em là con gái nhà hèn
    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    126. Có đâu sen, ấu một bồn?
    Có đâu chanh, khế sánh phần lựu lể

    127. Có đỏ mà chẳng có thơm
    Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì!

    128. Có gió giông hung mới biết tùng bá cứng
    Nhờ ngọn lửa hồng mới rõ thức vàng cao
    Thuyền quyên sánh với anh hào
    Vốn không thả lý, gieo đào như ai!

    129. Có làm mới có ăn
    Ngồi không ai dễ đem phần tới cho

    130. Có lòng xin tạ ơn lòng
    Xin đừng đi lại mà chồng em ghen

    131. Có phước đẻ con biết lội
    Có tội đẻ con hay trèo

    Có phước lấy được vợ già
    Sạch cửa sạch nhà, lại ngọt canh cơm
    Vô phước, lấy phải trẻ ranh
    Nó ăn, nó phá tan tành nó đi

    132. Có thằng chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ
    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh
    Có thằng chồng say như trong chay ngoài hội
    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    133. Có yêu thời nói rằng yêu
    Chẳng yêu, thì nói một điều cho xong
    Làm chi dở đục, dở trong
    Lờ đờ như nước cho lòng chẳng an

    134. Còn ăn còn ngủ còn gân
    Không ăn không ngủ có mần được chi

    135. Còn cha gót đỏ như son
    Đến khi cha thác, gót con đen xì

    136. Còn duyên kén những trai tơ
    Hết duyên ông lão cũng quơ làm chồng

    137. Còn duyên như tượng tô vàng
    Hết duyên như ổ ong tàn ngày mưa

    138. Còn duyên kẻ đón người đưa
    Hết duyên đi sớm về trưa một mình

    139. Còn đêm nay nữa mai đi
    Lạng vàng không tiếc, tiếc chi ngồi kề
    Còn đêm nay nữa, mai về
    Lạng vàng không tiếc, tiếc kề má son

    140. Còn trời còn nước còn non
    Còn cô bán rượu, anh còn say sưa

    141. Cỏ mọc bờ giếng cheo leo
    Lâm chung có bậu, hiểm nghèo có qua

    142. Cõng rắn cắn gà nhà
    Rước voi dày mả tổ

    143. Cô ấy mà lấy anh này
    Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu
    Ngồi trong cửa sổ têm trầu
    Có hai con nhỏ đứng hầu hai bên

    144. Cô kia má đỏ hồng hồng
    Cô chưa lấy chồng, còn chờ đợi ai
    Buồng không lần lữa hôm mai
    Đầu xanh mấy chốc, da mồi tóc sương

    145. Công anh chẻ nứa đan bồ
    Con chị đi mất, anh vồ con em
    Công anh rọc lá gói nem
    Con chị đi mất, con em trốn chồng

    146. Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    Một lòng thờ mẹ kính cha
    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    147. Cổ tay em trắng lại tròn
    Để cho ai gối nó mòn một bên

    148. Công anh làm rể có tài
    một mình ăn hết mười hai vại cà
    giếng đâu thì dắt anh ra
    kẻo mà anh chết theo cà nhà em

    149. Cơm kể ngày, cày kể buổi

    150. Cơm khô là cơm chảo
    Cơm nhão là cơm hà tiện
  4. . Cờ bạc là bác thằng bần
    Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm

    152. Cu kêu ba tiếng cu kêu
    Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè

    153. Cu kêu từng cặp trên cây
    Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao

    154. Cúc mọc dưới sông anh kêu là cúc thủy
    Sàigòn xa, chợ Mỹ cũng xa
    Gởi thơ thăm hết nội nhà
    Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em

    155. Cùng nhau tớ trước thầy sau
    Chim kêu vượn hú thêm đau đớn lòng

    156. Của chua ai nấy cũng thèm
    Em cho chị mượn chồng em vài ngày
    Chồng em đâu phải trâu cày
    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    157. Của làm ra để trên gác
    Của cờ bạc để ngoài sân
    Của phù vân để ngoài ngõ

    158. Của mình mình giữ bo bo
    Của người thì thả cho bò ăn no

    159. Của một đồng, công một lượng
    Công thì thưởng, tội thì trừng
    Đặng không mừng, mất không lo
    Ăn chưa no, lo chưa tới
    Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
    Cha mẹ cú, đẻ con tiên
    Cha mẹ hiền, sinh con thảo

    160. Cũ người thì lại mới ta
    Người chê rách rưới, ta cho là gấm nhung

    161. Cũng trũng, cũng gò, cũng rẫy, đồng
    Một bề biển lớn, ba bề sông
    Bèo theo nước cuốn qua Vàm Láng
    Nắng mở đường lên họp Chợ Giồng
    Thế sự nếu dồn cơn nước nổi
    Tình quê xin thắp bóng đèn chong
    Ruộng biền, muối mặn đời thanh đạm
    Dấu giữa phù hoa, há lạt lòng

    162. Cao su đi dễ khó về
    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    163. Cao su đi dễ khó về
    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    164. Con gà cục tác lá chanh
    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
    Con chó khóc đứng khóc ngồi
    Bà ơi đi chợ mua tôi đồng hành

    165. Chiều chiều trước bến Văn Lâu
    Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
    Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
    Thuyền ai thấp thoáng bên sông
    Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    166. Cười người chớ vội cười lâu
    Cười người hôm trước hôm sau người cười
  5. D


    1. Dao cau rọc lá trầu vàng
    Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa

    2. Day qua bên trái gặp bảy mũi dùi
    Day qua bên mặt gặp mười mũi giáo

    3. Dạy con từ thuở còn thơ
    Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về

    4. Dã tràng xe cát biển đông
    Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì

    5. Dầu bông quế, dầu bông hường
    Hải đường, thơm thiệt là thơm
    Tóc em như lông con chó xồm
    Xức dầu thì xức, ai thèm dòm, bớ em Hai

    6. Dầu bông sứ, dầu bông ngâu
    Xức tóc con Thị Mầu
    Nó đứng đầu cầu
    Nắng dãi mưa dầu, hôi hãy còn hôi

    7. Dầu cù là hiệu Ông Tiên
    Xức vô chót mũi, nổi điên tức thời

    8. Dốc một lòng lấy chồng hay chữ
    Để ra vào kinh sử lắng nghe

    9. Duyên phải duyên kim cải
    Ngãi phải ngãi giao hoà
    Rồi mai mốt đây con bạn nói dià nhà
    Cho qua nhắn kỉnh thăm cô bác với ông bà đặng bình an

    10. Dù ai cho bạc cho vàng
    Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay

    11. Dù ai nói ngã nói nghiêng
    Thì ta cũng vững như kiềng ba chân
  6. Đ

    1. Đánh bạc quen tay
    Ngủ ngày quen mắt
    Ăn vặt quen mồm

    2. Đánh chết, mà nết không chừa
    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    3. Đàn bà nói có là không
    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    4. Đàn bà tốt tóc thì sang
    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    5. Đàn đâu mà gảy tai trâu
    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    6. Đàn kêu tích tịch tình tang
    Ai đem công chúa lên thang mà về

    7. Đàn ông đi biển có đôi
    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    8. Đàn ông không râu vô nghì
    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    9. Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
    Anh về học lấy chữ nhu
    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    10. Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ
    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu
    Rút gươm đâm họng máu trào
    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    11. Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt
    Lửa nhà máy hết cháy thành than
    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn
    Kể từ khi em biết được chàng
    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    12. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc
    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang
    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc
    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    13. Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    14. Đèn treo ngang quán
    Tỏ rạng bờ kinh
    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình
    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    15. Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn
    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    16. Đêm khuya ra đứng bờ ao
    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
    Buồn trông con nhện giăng tơ
    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    17. Đêm khuya thắp chút dầu dư
    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    18. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    19. Đêm khuya trăng dọi lầu son
    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng
    Bển qua đây đàng đã xa đàng
    Dầu tui có lâm nguy thất thế
    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?
    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông
    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    20. Đêm nằm tàu chuối có đôi
    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    21. Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng
    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài
    Bây giờ chàng đã nghe ai
    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung
    Bây giờ sự đã nhạt nhùn
    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua
    Cá lên mặt nước, cá khô
    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    22. Đêm qua nguyệt lặn về Tây
    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài
    Trúc với mai, mai về trúc nhớ
    Trúc trở về, mai nhớ trúc không
    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông
    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    23. Đêm thanh cảnh vắng
    Thức trắng năm canh
    Một duyên, hai nợ, ba tình
    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    24. Đến đây đất nước lạ lùng
    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    25. Đến ta mới biết của ta
    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    26. Đề huề chồng vợ
    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang
    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    27. Đi chùa lạy Phật cầu chồng
    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    28. Đi đâu cho thiếp theo cùng
    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    29. Đi đâu mà vội mà vàng
    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
    Thủng thỉnh như chúng anh đây
    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    30. Đi cho biết đó biết đây
    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    31. Đi qua nhà nhỏ
    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng
    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    32. Đó đây trước lạ sau quen
    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    33. Đói lòng ăn đọt chà là
    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung
    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    34. Đói lòng ăn nửa trái sim
    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    35. Đói lòng nuốt trái khổ qua
    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    36. Đôi ta chẳng được sum vầy
    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương
    Vì sương nên núi bạc đầu
    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    37. Đôi ta đã trót lời thề
    Con dao lá trúc đã kề tóc mai
    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    38. Đôi ta như loan với phượng
    Nỡ lòng nào để phượng lià cây
    Muốn cho có đó, có đây
    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi
    Thà rằng chẳng biết thì thôi
    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    39. Đôi ta như thể con tằm
    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
    Đôi ta như thể con ong
    Con quấn con quít, con trong con ngoài
    Đôi ta như thể con bài
    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    40. Đố ai biết luá mấy cây
    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
    Đố ai quét sạch lá rừng
    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây
    Rung cây, rung cỗi, rung cành
    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    41. Đố ai lặn xuống vực sâu
    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    42. Đố anh con rít mấy chưn
    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người
    Mấy người bán áo con trai
    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    43. Đốt than nướng cá cho vàng
    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    44. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
    Muốn ăn bôn súng mắm kho
    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    45. Đồng tiền Vạn lịch
    Thích bốn chữ vàng
    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu
    Bây giờ cô lấy chồng đâủ
    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    46. Đổ lửa than nên vàng lộn trấu
    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    47. Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ
    Anh gặp em đây không cửa không nhà
    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    48. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    49. Đờn cò lên trục kêu vang
    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng
    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng
    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương
    Chiều nay qua phản bạn hồi hương
    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào
    Ghe tui tới chỗ cắm sào
    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    50. Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá
    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm
    Anh thấy em tốt mã anh lầm
    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    51. Đưa nhau đổ chén rượu hồng
    Mai sau em có theo chồng đất xa
    Qua đò gõ nhịp chèo ca
    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    52. Đường trơn trợt gượng đi kẻo té
    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng
    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi
    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    53. Đứt tay một chút còn đau
    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

Cái loa phường và dưỡng sinh


Cái loa phường và dưỡng sinh.

Thế hệ trẻ con tầm 15 năm trước đây thức dậy cùng với tiếng nhạc giải phóng Điện Biên lúc 5h sáng. Thời ấy không nghĩ ngợi gì nhiều về loa phường, cứ coi nó  là một thứ hiển nhiên như ông mặt trời mọc ở đằng đông. Khi nào “Bộ đội ta tiến công trở về…” thì dậy tập thể dục, đến lúc điểm tin làng xã thì liệu liệu mà cắp đít đi học. Tầm 4h30-5h loa bắt đầu phát nhạc cách mạng là lục đục đi về. Người dân sống trong một cái vòng tròn bình lặng trong đó thông tin được đưa đến đều đặn hai lần một ngày.
Cái loa phường ít nhiều đã ảnh hưởng đến công việc và sức khỏe của những người sống và làm việc gần loa phường. Người ta diễn đạt với nhau giống như những nghệ sĩ kịch câm, quơ tay múa chân lắc đầu nhiều hơn nói, bởi vì âm thanh của cái loa phường rất lớn, không thể nào nói nhau nghe được cho dù ở gần bên. Nếu có dịp mục kích các điểm tập thể dục dưỡng sinh của các cụ già gần cái loa phường mà thời gian trùng với lịch phát của loa phường thì mới thây thương họ, người hướng dẫn thì chỉ việc làm mẫu rồi tất cả làm theo, chỉ có lắc lắc và gật gật để trả lời thay cho làm đúng làm sai thôi.Sau những buổi tập chống chọi với loa phường thì mọi người có cảm giác mệt nhiều hơn là khỏe, Tập dưỡng sinh về sau này có bước tiến bộ là tập theo nhạc nền, nhưng với những cái máy hát nhỏ bé  của các cụ khó có thể nào đánh bại lại tiếng vang vọng của loa phường. Giải pháp đưa ra  là thi gan với cái loa phường. Cái loa phường phát riết, phát hết chuyện thì  Cái loa phường cũng phải ngưng không lẽ nào nó không biết mệt, cuối cùng thì các cụ cũng thoát khỏi sự tra tấn lỗ tai mà hưởng được dăm phút tập luyện trong nhẹ nhàng êm ả. Cái loa phường không đáng trách, Cái loa phường chỉ biết phát lại những gì người ta đọc vào đầu nó.  Cái loa phường chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, thông báo cổ động cho mọi người biết thôi.......v v.  Cái loa phường không hề biết rằng nó đã gây không ít phiền toái dẫn đến căm giận của các cụ tập dưỡng sinh. Ước gì  Cái loa phường biết lắng nghe và biết suy nghỉ để đỡ làm ảnh hưởng sức khỏe người khác.  Cái loa phường đáng ghê như vậy, chứ còn cái loa người (nhiều chuyện) còn ghê ác tỉ.Chuyện có nói không, chuyện không nói có, ăn cơm nhà nói chuyện hàng xóm, chê bay người này, tâng bốc người kia, chia bè kết phái hảm hại người này, trù dập người khác....ôi thôi vô số tràn giang đại hải chuyện loa kể sao cho siết. Chỉ biết rằng những cái loa đó chỉ có làm ách tắc phong trào, gây xáo trộn, mất đoàn kết  nội bộ, tan đàn sẻ ghé đơn vị, có khi  rã bảnh tô dưỡng sinh địa phương không chừng.
 Việt Nam ngày càng phát triển, con người theo đó ngày càng văn minh, hãy biết suy nghỉ đúng sai, đừng là cái loa đáng thương hại.

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Hãy tự hào vì sự lạc lõng của bạn

Và thưa các bậc tiền bối đi trước, xin các vị hãy lắng nghe chúng tôi. Có thể những lời tôi nói với các vị là một sự vô ơn, cực đoan và nông nổi, nhưng nếu không như thế thì làm sao gây chú ý cho các vị trong thời đại hỗn loạn thông tin này được!  Sự vận động của thế giới là không thể tránh khỏi và chúng tôi mong sao các vị đừng dùng những chuẩn mực của thế hệ mình để xét đoán chúng tôi. Chúng tôi cũng như các vị, chúng ta đều đang sống trong một thế giới suy tàn, chúng ta thừa mứa vật chất nhưng thiếu thốn tinh thần, chúng ta thừa thãi bản năng nhưng thiếu thốn tình yêu, chúng ta cuồng vọng mà không có niềm tin trong sáng. Các vị hãy thử nhớ lại tuổi trẻ của mình, tuổi trẻ với sự khát khao lý tưởng, không thể chấp nhận một thế giới lộn ngược các giá trị, và các vị đã phẫn nộ như thế nào? Và các vị được dậy rằng đời sống cảm xúc chỉ mang lại thất bại, những gì trong trí tưởng tượng chỉ là trò trẻ con vô giá trị, các vị bị buộc phải sống đời sống thực tế và bị cài cắm bởi các mục đích do hệ thống cũ tạo ra. Dần dần, các vị đã quên rằng các vị từng có thời giống chúng tôi. Nếu các vị thất bại với hệ thống cũ, tại sao còn muốn lôi chúng tôi vào đó. Nếu các vị thành công với nó, vậy còn có ý nghĩa gì khi muốn chúng tôi lặp lại con đường các vị đã đi.
Nếu các vị yêu thương chúng tôi, xin các vị hãy để chúng tôi được tự do với những suy tưởng, những lối sống của mình. Nếu các vị có trách nhiệm với chúng tôi, xin các vị hãy tạo dựng những nền tảng vững chắc để trên đó chúng tôi có thể học tập, nghiên cứu, thực hiện những lý tưởng chúng tôi mong muốn. Làm ơn, đừng cài cắm điều gì vào đầu chúng tôi thêm nữa, đừng lên giọng phán xét chúng tôi, cũng đừng biến chúng tôi trở thành những quân cờ để thực hiện những mục đích chưa đạt được của các vị. Với chúng tôi, chỉ tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm là đủ. Và nếu chúng tôi có vô tình không biểu lộ sự đáp lại tình yêu đó của các vị thì các vị cứ yên tâm rằng tất cả tình yêu và tinh thần trách nhiệm đó chúng tôi cũng sẽ chia sẻ lại cho thế hệ tiếp theo, như một sự “đền ơn nối tiếp”. Hãy để chúng tôi được là chính chúng tôi, chúng tôi xây dựng thế giới theo ý chúng tôi mong muốn, và nền tảng tư tưởng để duy trì nó chỉ đơn giản chỉ dựa trên tình yêu thương và trách nhiệm.

Cách nhìn người của Gia Cát Khổng Minh

Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh (181–234), hiệu là Ngọa Long tiên sinh, là vị quân sư và đại thần của nước Thục thời hậu Hán. Ông là một chính trị gia, nhà quân sự, là học giả và cũng là một nhà phát minh kỹ thuật. Không chỉ có nhiều kiến thức uyên thâm, Gia Cát Lượng còn là một người rất giỏi "nhìn người” và "dùng người”.
Khi còn ở núi Ngọa Long, ông đã viết ra bộ sách "Tướng Uyên” trong đó có đưa ra nhận xét về tính cách con người như sau: "Tính người thật khó hiểu. Dung mạo bất nhất, hành động trăm ngàn lối. Kẻ trông hiền lành nhu thuận mà vô đạo, kẻ bề ngoài cung kính mà trong lòng trí trá vô lễ. Kẻ trông rất hùng dũng nhưng lại nhát sợ. Kẻ có vẻ thật tận lực mà rất bất trung”.
Vì vậy, để giúp các bậc "chính nhân quân tử” hiểu thấu được lòng người, Gia Cát Lượng đã viết riêng một chương có tên là "Tri nhân” (hiểu người) cho bộ sách Tướng Uyên của mình trong đó ông đưa ra 7 cách để hiểu được lòng người khác như sau:
1. Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết "chí hướng”.
2. Lấy lý luận dồn họ vào thế bí để biết "biến thái”.
3. Lấy mưu trí trị họ để trông thấy "kiến thức”.
4. Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét "đức dũng”.
5. Cho họ uống rượu say để dò "tâm tính”.
6. Đưa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng "liêm chính”.
7. Hẹn công việc với họ để đo "chữ tín”.
Nhờ những phép thử rất hữu hiệu này mà Gia Cát Lượng đã giúp cho Thục vương Lưu Bị chọn lựa ra những người có đủ cả tài, đức, trí, dũng, chính, tín; xây dựng nên triều đại nhà Thục hùng mạnh, sánh ngang với hai cường quốc bên cạnh là Ngụy và Ngô.
Giờ đây, sau gần 2.000 năm, những triết lý này vẫn mang đầy tính thực tiễn; áp dụng cách 7 cách trên của Gia Cát Lượng vào cuộc sống ngày nay sẽ giúp bạn vừa xem nhân diện, vừa biết cách thử tâm, đức, trí tuệ, tài năng của một người; để tìm được một người đồng hành, một đối tác làm ăn tốt trong cuộc sống, trở thành nhà lãnh đạo thành công.

Thuật dùng người của Gia Cát Lượng

Gia Cát Lượng, một nhà chính trị quân sự kiệt xuất của lịch sử Trung Quốc có lẽ không ai là không biết tới. Trong cuốn: "Thuật dùng người qua các triều đại Trung Quốc” tác giả Sở Nhẫn có tổng kết lại cách dùng người của Gia Cát Lượng để chia sẻ và giúp các nhà quản trị trong công việc kinh doanh của mình
1. Trọng dụng nhân tài:
Gia Cát Lượng cho rằng, phương sách cơ bản trị quốc là trọng dụng nhân tài. Ông nói "Sĩ phu trị quốc như trị bản thân. Con đường trị thân là dưỡng thân, con đường trị quốc là tiến cử người hiền”. "Dưỡng thân cầu sinh, cử hiền cầu an”. Nhà nước có phụ tá như có cột chống nhà. Phụ tá không được yếu, vách nhà không được mỏng. Chỉ có chọn hiền tài phụ tá nhà nước thì đất nước mới an bình. Ông khẳng định: "Gần hiền thần, xa tiểu nhân. Các đời Tiền Hán chỉ vì gần tiểu nhân, xa hiền thần nên triều Hán đã bị khuynh đảo.” – (Tiền xuất soái biểu).
Gia Cát Lượng đã tiến cử cho cha con Lưu Bị khá nhiều người tài như Tưởng Uyển, Trương Nghi, Phí Vĩ, Đổng Doãn, Hướng Long, Vương Hằng, Trương Thang, Khương Duy. Họ đều là những người đã đóng góp công sức cho triều Thục Hán cả.
2. Tuyển chọn kỹ lưỡng:
Trong "Gia Cát Lượng tập” có một chương viết "Tri nhân tính” (Biết tính người) đề ra bảy điều nhận xét đúng một con người như sau:
- Thứ nhất: Hỏi các vấn đề đúng sai phải trái để xem ý chí của họ
- Thứ hai: Đặt một vấn đề cần biện luận tới nơi tới chốn, rồi từ đó xem diễn biến tư tưởng của họ.
- Thứ ba: Bàn bạc về mưu kế với họ để xem kiến thức của họ ra sao.
- Thứ tư: Báo cáo cho họ biết trước những khó khăn nguy hiểm để xem lòng dũng cảm của họ tới đâu.
- Thư sáu: Cho họ tiếp xúc với quyền lợi để biết tính tình chân thật của họ.
- Thứ bảy: Hẹn với họ về một việc gì để xem họ có giữ đúng chứ tín hay không.
Đó là phương pháp để khảo sát các mặt: "chí”, "biến”, "thức”, "dũng”, "tính”, "liêm”, "tín”.
3. Nghiêm khắc pháp trị:
Gia Cát Lượng chấp pháp rất công bằng. Như ông đã nói: "Lòng ta cân bằng, không thiếu thận trọng với mọi người” (Thái bình ngự lãm). Ông từng nói: "Thưởng để động viên lập công, phạt để trừ gian thần. Thưởng phạt phải công bằng” (Tiện nghi tập lục sách). Ông không chỉ chấp hành pháp luật nghiêm minh với người khác mà ngay cả đối với mình. Sau khi thất bại ở Nhai Đình, mặc dù là tội của Mã Tắc, song vì tự thấy mình đã quên lời dặn của Lưu Bị: "Mã Tắc thường nói quá sự thật, không thể dùng vào việc lớn” Gia Cát Lượng đã viết tấu trình xin cách chức thừa tướng của mình.
4. Tâm phục khẩu phục:
Gia Cát Lượng dùng người không những làm mọi người tâm phục mà còn phải khẩu phục. Đó còn gọi là công tâm vì nước. Ví dụ nổi bật nhất là trận chiến bình định dân tộc thiểu số ở Tây Nam. Khi đó ông đã nghe lời Mã Tắc: "Tấn công vào lòng người là chính, tấn công vào thành trì là phụ. Chiến tranh bằng tâm lý là chính, chiến tranh bằng binh sĩ là phụ” (Gia Cát Lượng tập). Do đó bảy lần bắt sống rồi lại thả đầu lĩnh dân tộc thiểu số Mạnh Hoạch đã làm cho họ cuối cùng vui vẻ thuần phục.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Nguyên soái của trăm quân - Đao


Ngạn ngữ võ học chép rằng:
Đao là lá gan của trăm loại binh khí.
Đao như mãnh hổ.
Đơn đao xem triển thủ, song đao xem bộ pháp.
Đại đao là “bách quân chi nguyên soái”, nghĩa là nguyên soái của trăm quân…

Trong các loại khí giới thì đao là thứ khí giới phổ thông và lợi hại hơn cả. Đao gồm các loại đơn đao, song đao và đại đao. Tuỳ theo các môn phái võ mà đao có khác nhau về tên gọi. Phép sử dụng đao làm sao cho khẩn mật cũng đòi hỏi phải có sức lực. Một thanh đơn đao phân làm ngũ vị, gồm Thiên, Địa, Quân, Thần, Sư; cũng như trong ngành văn có Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vậy.


Lưng đao là Thiên. Lưỡi đao là Địa. Giữa chuôi đao là Quân. Bộ phận che chuôi đao (đao bàn) là Thần. Phần cuối chuôi đao là Sư. Ba tấc về phía mũi đao gọi là Liệu nhận. Tua chỉ đỏ ở đại đao gọi là Xuy phong. Đơn đao phân làm 6 thức là triển, mạt, câu, đoá, khảm, phách. Mũi đao, lưỡi đao hướng ra ngoài là triển, hướng vào trong là mạt, co lại là câu, đưa ngang là đoá, giơ lên quá đầu là khảm, hai tay nắm chuôi đao chặt xuống là phách. Kích thước và trọng lượng đao tùy sở trường của người sử dụng, thông thường tay buông thõng, cán đao đặt trong hổ khẩu của bàn tay, đao dựng đứng, mũi đao ngang vành tai dưới là vừa.

Về phép sử dụng đao thì không nhảy nhót nhiều. Khi luyện đao, một tay cầm đao, còn một tay không. Thường thì cầm đao tay phải. Sự thật thì tay cầm đao không khó, khó nhất là tay không cầm đao. Cho nên khi xem đao pháp của một người tới trình độ nào, ta chỉ cần nhìn vào tay không cầm đao của người đó, xem có tiến thoái tự nhiên theo đao pháp không. Đối với song đao, bộ pháp là quan trọng, đường đao tuy phức tạp nhưng phải theo thứ tự, không được rối loạn. Vì thế ngạn ngữ võ học nói rằng: “Đơn đao xem triển thủ, song đao xem bộ pháp”.

Luyện đao cốt yếu ở chỗ định thủ, định thủ là tay phải làm chủ được cây đao, không cúi đầu, cong lưng, thế đao đánh ra thu vào có mức độ, phải tưởng tượng trước mắt có địch thủ đang giao đấu với mình. Trọng lượng cây đao cũng phải được lưu ý. Tập tục luyện đao thường mãnh liệt đã trải cả ngàn năm. Thời xưa lính tráng đấu nhau bằng khí giới ngắn, người dùng đao rất đông. Múa đao lên, đao rít vù vù, hàn quang khiếp người, chỉ nghe gió đao rít mà không thấy bóng người, dũng mãnh, oai võ, hùng mạnh có thừa. Phong cách như mãnh hổ. Mũi đao, lưỡi đao là bộ phận nhọn sắc nhất chủ về tấn công, sống đao rộng, dài, kiên cố chuyên về phòng thủ.

Thời xưa, đao lại khá nặng, khi muốn chặt, bổ nhát nào cho kiến hiệu thì ra đao phải mau le, có lực. Để biểu hiện được đặc điểm mạnh của đao thuật thì cần phải thành thạo, nắm vững các loại đao pháp và lực pháp, phối hợp chặt chẽ được thân pháp, bộ pháp, nhãn pháp, đao pháp. Khi luyện tập đao thì khí đầy lực mạnh, thân và đao hoà hợp, đao theo thân chuyển, từ thân thể kéo tứ chi để gíup đao phát lực, bộ pháp phải nhẹ nhàng linh hoạt, nhanh nhẹn, vọt nhảy, xoay chuyển, tiến lùi tự nhiên thoải mái, hai mắt tinh anh, ánh sáng hừng hực, vung đao nhanh chậm, nặng nhẹ tương ứng, thu duỗi tự nhiên.

Đao pháp cơ bản của đơn đao có quấn đầu ôm gáy, múa hoa, cắt đỡ, bổ, chặt, thọc, đâm, chém, vớt…
Đại đao
Đại đao được gọi là “nguyên soái của trăm quân”, phần lớn cầm chắc hai tay mà vũ động. Yếu lĩnh của đao pháp gọi là “đại đao xem lưỡi” chính là các loại đao pháp đều vận dụng rõ ràng ở lưỡi đao. Khi diễn luyện, một chiêu, một thức bổ mạnh, chém rộng, một động, một tĩnh đều uy vũ đường đường.

Chiến tranh cổ đại, đại đao thường dùng cho chiến tướng làm binh khí giao đấu ở trên lưng ngựa, uy lực rất lớn. Cả cây đao do thân đao, cán đao, đĩa đao và vòng kêu là bốn bộ phận lớn cấu tạo nên. Chiều dài và độ nặng đại đao tùy sở trường danh gia sử dụng. Đao có độ nặng dễ đằm tay và ra chiêu hiệu quả, độ dài vừa theo chiều cao của người sừ dụng, dài quá sẽ vướng và chậm, ngắn quá thì không phát huy được hết uy lực của đao.

Một số chủng loại đao nổi tiếng như Quan Công đại đao (Guan Yi big knife), Thanh long yểm nguyệt đao (The big knife with a green dragon and the crescent moon), Xuân Thu đại đao (The big knife of Spring and Autumn), Cửu hoàn đại đao (Nine rings big knife) Trảm mã đao (Chop horse big knife)…


Luận về đại đao, Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường - một trong ngũ hổ tướng đời Tam Quốc (221 - 265), được hậu thế tôn xưng là Thánh “Trung nghĩa thiên thu” (God of Righteousness), là người rất nổi tiếng về sử dụng Thanh long đại đao nói rằng: “Đường đao dễ phát khó thu, khó mà nắm cho linh hoạt được, để bù lấp khuyết điểm ấy phải rèn sức tay, tập trung sức lực vào hai cánh tay, dồn vào cán đầu, dùng sức làm cho cánh tay bạt đao hợp nhất, như vậy mới có thể sử dụng linh hoạt và như ý.”

Đao pháp chủ yếu có chém, bổ, miết, xoay, khều, gác, đẩy, kéo, gạt, đỡ, vớt, đâm…

Các môn phái, võ phái, võ đường Võ cổ truyền Việt Nam đều có bài bản về đao.
Trong hệ thống binh khí Võ cổ truyền, đại đao còn có tên goi là “siêu”. Siêu là loại hình đao lớn, cán dài giống như đại đao, theo nghiên cứu phân tích kỹ thuật lưỡi siêu nhỏ hơn đại đao.

Sử chép Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), danh tướng triều Lý, oai phong lẫm liệt trên lưng ngựa, bằng những võ công kỳ vĩ, với thanh đại đao tung hoành chiến trận, Bắc đánh Tống, Nam bình Chiêm, bách chiến bách thắng, đã làm rạng rỡ uy danh một thời cho tổ quốc.

Sách Võ nhân Bình Định của Quách Tấn - Quách Giao ghi lại thời Tây Sơn có Tam Thần Đao đó là Ô long đao của Nguyễn Huệ, Huỳnh long đao của Trần Quang Diệu và Xích long đao của Lê Sĩ Hoàng.

Ô long đao là tên đao của Nguyẽn Huệ. Truyền rằng một hôm đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa, để tạo không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin có hai con rắn mun lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu Xà.

Thanh Ô long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen, không có hào quang mà chỉ có khí lạnh. Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hằng trăm người. Năm Kỷ Dậu (1789) Ô long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

Huỳnh long đao là thanh thần đao của sư phụ Diệp Đình Tòng truyền tặng cho tướng quân Trần Quang Diệu. Sở dĩ có tên Huỳnh long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được thếp vàng. Cặp song đao Ô long và Huỳnh long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh long góp phần tạo nên.

Xích long đao của tướng Lê Sĩ Hòang. Sở dĩ có tên Xích long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được sơn màu đỏ. Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, Vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước. Lê Sĩ Hòang, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt, Hoàng sợ chủ hỏi tội nên chạy trốn vào rừng sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê Sĩ Hoàng có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây Xích long đao của sư phụ truyền cho.

Nguyên nghĩa võ thuật là nghệ thuật quân sự (military arts). Ngày xưa quyền thuật, binh khí dùng tác chiến nên chiêu thức yêu cầu thực dụng, hiệu quả. Nếu những chế tác “đầu Ngô, mình Sở”, lấy bên này ghép lại bên kia, lấy côn pháp chế làm thương pháp, lẫn lộn kiếm pháp với đao pháp, mua may quay cuồng tưởng là đẹp mắt nhưng đòn thế vô dụng thì không phải là yếu lĩnh của võ thuật. Văn có văn phạm, võ có võ lý, nhất nhất phải theo pháp của từng môn.
Đơn đao gồm mũi đao, thân đao, lưỡi đao, sống đao, vành che tay (“đao bàn”), cán đao.v.v.. cấu tạo nên. Mũi đao, lưỡi đao là bộ phận nhọn sắc nhất chủ về tấn công, sống đao rộng dày kiên cố chuyên về phòng thủ.
Xét về kỹ pháp, đơn đao dùng nhiều các động tác bổ, chặt, thọc, đập, đâm, khều.v.v.. (phách, khảm, thích, cách, trát, liêu…) với mức độ tương đối lớn. Thời cổ đao lại khá nặng, muốn khi chặt, bổ nhát nào nhát ấy đều khiến hiệu thì ra đao phải mau lẹ có lực. Để biểu hiện đặc điểm mạnh của đao thuật thì cần phải thành thạo, nắm vững các loại đao pháp và lực pháp, phối hợp chặt chẽ khi được thân pháp, bộ pháp, nhãn pháp, đao pháp. Khi luyện tập đao thì khí đầy lực mạnh, thân với đao hòa hợp, đao theo thân chuyển, từ thân thể đẩy kéo tứ chi để giúp đao phát lực; bộ pháp thì phải nhẹ nhàng, linh hoạt, mau lẹ, vọt nhảy, xoay chuyển, tiến lùi tự nhiên thoải mái, hai mắt mau lẹ, ánh mắt hừng hực, vung đao nhanh chậm, nặng nhẹ tương ứng, thu duỗi tự nhiên.

HIỂU ĐỜI : Dương Trạch Tế


Một yogi muốn đi tới thành công tuyệt đối (chuyện này hiếm hoi) thì những điều phải tuân theo thêm là:
  • Bất bạo động (trong bất cứ hoàn cảnh nào).
  • Không nói dối, nếu khi sự thật có thể làm hại ai, nhà yogi có quyền im lặng.
  • Thường xuyên học hỏi, nghiên cứu.
  • Không uống rượu, tuyệt dục.
  • Không nhận tặng vật, không tích góp của cải. Nếu có dư hơn nhu cầu mà không bố thí tức là đồng nghĩa với ăn cắp.
  • Không làm quấy đã đành, chỉ nghĩ tới điều trái cũng là tội lỗi.
  • Đặt hết tinh thần, tình cảm vào đấng tối cao hay "Tâm thức vũ trụ".
  • Phải trọn vẹn với "Dâng hiến, phụng sự, minh triết".
  • Hướng về mục đích nhưng không đặt nặng sự thành đạt, kiên cường, từ tốn đi tới dù cho mọi người phê phán, giống như "xe cát biển Đông".
  • Đây là một sân choi, là một cuộc chơi và chúng ta _ những người tham gia trong cuộc chơi ấy_ cốt tìm lấy niềm vui và cố tạo lấy niềm vui. Những gì qua được cứ để nó qua đi và chúng ta sẵn sàng bước tới trong an nhiên và thư thái và theo Chú thiển nghĩ đấy là thái độ sáng suốt của người tập DƯỠNG SINH. Hãy đến với cuộc chơi bằng cả TẤM LÒNG và CHÂN TÌNH cùng với niềm ĐAM MÊ thì cuộc sống sẽ thú vị biết bao! VÀ MỌI NGƯỜI SẼ CUNG VUI VỚI MÌNH.Chú mong là sẽ được chia sẻ phần nào. Chúc Tung vui gột bỏ hết những vướng bận bấy lâu nay. Tiền bạc là của con mình, địa vị chỉ tạm thời giữ, vinh quang thuộc về quá khứ, sức khỏe mới là của ta

HIỂU ĐỜI : Dương Trạch Tế
Qua một ngày mất một ngày.Qua một ngày vui một ngày.Vui một ngày lãi một ngày.
“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

1.    Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được.  Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.
Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
2.    Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già.
3.    Tại sao khi còn sức khỏe, còn hưởng thụ được mà cứ phải sợ cái này? sợ cái kia? sợ bạn bè, sợ chòm xóm phê phán rồi cứ ráng mà nhịn? tới ngày muốn sống cho thoải mái đúng bản năng thì răng đã rụng, tuổi trẻ không  còn, nhan sắc cũng tàn, đi tới đâu run tới đó thì còn sức đâu mà làm cái gì nữa? Thuận lẽ tự nhiên: Nếu bạn đã cố gắng hết mình nhưng vẫn không thay đổi được những gì bạn không mong muốn, vậy hãy để nó thuận theo lẽ tự nhiên thôi! Có lẽ đó cũng là một cách giải thoát. Mọi chuyện ở đời làm sao cưỡng ép theo ý muốn, những trái dưa ép chín cũng đâu có ngọt.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

ĐƠN KIẾN NGHỊ THẮC MẮC


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------000----

ĐƠN KIẾN NGHỊ & THẮC MẮC

Kính gửi:   Ông Chủ tịch Hội TDDS tỉnh Long An
Ban chuyên môn hội TDDS Tỉnh Long An.

Chúng tôi là hội viên hội TDDS huyện Cần Giuộc đang tập luận tại clb ấp Trị Yên, xã Tân Kim, nay chúng tôi gởi đến ông Chủ tịch hội và Ban chuyên môn tỉnh Long An, xin được giải đáp những thắc mắc và kiến nghị sau:
-      Ngày 6/6/2012 Hội CNT kết hợp với TTVHTT huyện Cần Giuộc tổ chức ngày truyền thống người cao tuổi, trong đó có thi đấu môn TDDS. Theo điều lệ thì thi 2 bài: Bảy động tác tay không và bài gậy ngắn. Hiện tại tập thể hội viên chúng tôi rất hoang mang lo lắng không biết kỹ thuật như thế nào. Bởi lẽ có một người ở bên clb thị trấn Cần Giuộc đến clb chúng tôi chỉ bảo rằng: Tập bài gậy phải nắm ở ngoài bít 2 đầu gậy, động tác lườn phải hạ tay xuống khỏi vải, động tác vặn mình phải hạ tay xuống ngang vai rồi mới xoay về sau..v..vv Chúng tôi không đồng tình, vì trước đây thầy Tùng hướng dẫn chúng tôi theo mẫu của tỉnh Long An là không làm như vậy. Không có thầy nào cả, ông Tùng đã bị loại rồi, sẽ loại luôn ở tỉnh Long An. Câu nói này làm chúng tôi rất bức xúc, nửa chữ cũng là thầy tại sao người đó lại phát biểu vô cảm như thế. Chúng tôi hỏi ai nói như thế, thì người đó nói là bà Lan, chủ tịch hội nói. Những người đó cũng đã từng học ở thầy Tùng. Sao hôm nay lại phát biểu như thế? Cuộc tranh luận nổ ra, dẫn đến cải nhau lớn tiếng, nếu không có thầy Thanh ở đó thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra?. Chúng tôi xin hỏi ông chủ tịch hội TDDS tỉnh Long An và Ban chuyên môn:
1.        Cầm gậy như thế là đúng hay sai. Động tác lườn và vặn mình làm như thế là đúng hay sai?
2.        Ông Tùng còn là Ủy viên bản chấp hành tỉnh Long An, trong ban chuyên môn hay không? Ông Tùng có bị Tỉnh Hội loại khỏi hội dưỡng sinh như lời bà Lan nói hay không?
3.        Bà Lan tuyên truyền như thế với mục đích gì? Đạo đức và tư cách như vậy, bà Lan có xứng đáng lãnh đạo chúng tôi không?

-      Bà chủ tịch hội TDDS huyện Cần Giuộc nằm trong ban tổ chức giải nhưng lại tham gia chỉ đạo tập luyện cho 2 đội: Thị trấn Cần Giuộc và Mỹ Lộc. Các clb còn lại tự lo tập luyện không có người hướng dẫn, không có huấn luyện viên, chúng tôi làm sao thi thố gì lại với Thị trấn Cần Giuộc và Mỹ Lộc. Chúng tôi nghĩ rằng cuộc thi này không còn công bằng và nghiêm túc nữa. Xin được hỏi:
1.    Bà Lan làm như vậy đúng hay sai ?. Có khi nào bà ấy để cho đội của mình huấn luyện bị thua thiệt không?  
2.    Hiện tại ai là hướng dẫn viên, huấn luyện viên TDDS tại huyện Cần Giuộc, người của clb thị trấn Cần Giuộc qua bên clb của chúng tôi có phải do hội TDDS huyện Cần Giuộc cử đi hay là của hội tỉnh Long An cử về và có phải là hướng dẫn viên không?
3.    Hiện tại bà Lan thâu tóm mọi quyền lực trong tay, bà tự ý đi hướng dẫn TDDS cho clb khác, theo chúng tôi biết được là lâu nay bà Lan không tham gia tập luyện TDDS chỉ chơi môn cầu lông. Vừa là chủ tịch hội vừa đi hướng dẫn, thì bà Lan có quá ôm đồm không? Bà Lan có làm đúng trách nhiệm và khả năng của mình không? Đề nghị bà Lan ngưng ngay lời nói làm mất uy tín thầy Tùng và ngưng ngay việc làm tạo sự hiềm khích, đố kỵ giữa các hội viên và giữa các clb với nhau.
Kính mong chủ tịch hội TDDS và Ban chuyên môn tỉnh Long An giải đáp những thắc mắc của clb chúng tôi, để chúng tôi an tâm tập luyện thi đấu, chúng tôi rất cần những chỉ đạo đúng đắn, người hướng dẫn tin cậy, chứ chúng tôi không cần những người phá rối chúng tôi.
Sự quan tâm của quí hội tỉnh Long An sẽ động viên chúng tôi rất nhiều để chúng tôi tham gia cuộc thi ngày truyền thống người cao tuổi tại huyện Cần Giuộc.
Chân thành cảm ơn ông Chủ tịch hội và Ban chuyên môn hội TDDS tỉnh Long An đã xem xét.
                                                      Cần Giuộc, ngày.... tháng....năm...
                                                                         Người viết



Thể dục dưỡng sinh đầy rắc rối


Thể dục dưỡng sinh đầy rắc rối

Sáng nay, 23/02/2012 Tôi có nhận được thơ mời hợp giải quyết việc khiếu nại của tập thể câu lạc bộ TDDS xã Đa Phước. Vì không chuẩn bị kịp thời gian cho công việc nên có thể tôi không tham dự cuộc hợp được. Tôi gởi thơ này để trình bày quan điểm của mình để tiện cho việc phúc đáp việc khiếu nại trên.
Tôi không được biêt nội dung thư khiếu nại, nhưng theo trình bày của Chị Thanh, tại cuộc hợp tổng kết năm 2011. Tôi được biết những hội viên trên Đa Phước, sau khi bị kích động, xúi giục của cá nhân nào đó đã  ký vào bản kiến nghị gởi cho Hội TDDS tỉnh Long An, và Hội TDDS huyện Cần Giuộc không đồng tình với video clip mà tôi đã upload lên mạng youtube.
Thứ nhất: Mạng internet dùng để chia sẽ thông tin toàn cầu, để mọi người tham khảo, học tập, nhận xét, đánh giá...v v.. tôi đưa video bài tập thể dục dưỡng sinh của các clb trong và ngoài tỉnh cũng không ngoài mục đích trên. Tất cả mọi người quan tâm đến vấn đề tập thể dục dưỡng sinh có cơ hội tham khảo và có thể lấy đó làm tư liệu cho riêng mình hoặc dựa vào những video này để tự rút ra những bài học kinh nghiệm riêng cho mình cho clb mình đang tham gia. Tôi nghĩ rằng những thông tin tôi đưa lên mạng ít nhiều cũng có lợi cho những ai quan tâm đến vấn đề thể dục dưỡng sinh. Riêng các thành viên clb xã Đa Phước đã không tận dụng được những video clip này để làm cơ sở cho sự phát triển tập luyện của mình, ngược lại (có thể) họ cảm nhận rằng video clip trên là để biu xấu họ, chê bai họ nên tỏ ra bức xúc. Nếu một người đã toàn tâm toàn ý với bộ môn yoga đã nắm được những 6 điều nhắc nhở đối với người tập yoga thì họ sẽ không bao giờ phản ứng tiêu cực như những hội viên ở clb xã Đa Phước. Ngược lại họ sẽ đón nhận thông tin đó một cách nhẹ nhàng và trân trọng, họ sẽ cảm ơn người đã quan tâm chia sẽ với mình, với clb mình, họ cầu mong đón nhận những đóng góp ý kiến của mọi người để tự học tập, họ sẽ rút ra những điều gì tốt cho bản thân họ,loại trừ những tạp niệm, những cái xấu trong khi tập luyện yoga. Nếu clb xã Đa Phước không cảm nhận được điều trên, và muốn tôi xóa video clip của clb xã Đa Phước, thì họ nên phản hồi lại cho tôi trên mạng internet không nhất thiết phải gởi đơn thư kiến nghị hoặc khiếu nại. Tôi sẳn sàng sẽ làm theo yêu cầu của họ khi họ hiểu rõ vấn đề.
Thứ hai: Hội TDDS tỉnh Long An và Hội TDDS huyện Cần Giuộc không nên đặt nặng vấn đề giải quyết những thư kiến nghị đại loại như thư của clb xã Đa Phước. Qua tham khảo ý kiến của những người trong ban chấp hành hội thể dục dưỡng sinh tình Long An, quan điểm của họ là: Tập dưỡng sinh là để tìm và tạo sức khỏe cho bản thân mình, clb xã Đa Phước có ngưng tập hay nghĩ tập là quyền lợi của họ không ảnh hưỡng gì tới mọi người. Không vì những video trên mạng mà bỏ tập, ngưng tập, nghĩ tập, thiệt thòi thuộc về người tập. Những thông tin trên mạng là đa dạng, nếu cảm thấy không hài lòng cứ việc phản hồi thẳng trên mạng, hoặc nói trực tiếp với người đưa thông tin, Hội không chủ trương giải quyết vấn đề trên, vì đó sẽ là môt tiền lệ xấu cho hoạt động của hội, nếu giải quyết trả lời thư, thì rồi đây các clb khác cũng sẽ gởi thư khiếu nại đầy ấp cho ban thường trực hội. Clb xã Qui Đức là do huyện Bình Chánh quản lí, Hội tỉnh Long An và Hội huyện Cần Giuộc không thể can thiệp vào nội bộ của đơn vị khác ngoài tỉnh.
Nếu theo dõi thông tin trên kênh video của tôi, mọi người sẽ thấy có những phản hồi rất thú vị, có người cho rằng bài tập tôi hướng dẫn cho xã Qui Đức là giống như thiếu nhi, không có gì gọi là dưỡng sinh cả,ông thầy dạy bị sao vậy?(chắc bị khùng)http://www.youtube.com/watch?v=QwEBC65VNUk&list=HL1329963610&feature=mh_lolz. Tôi rất trân trọng tiếp thu những phản hồi như thế. Hy vọng rằng Hội TDDS huyện Cần Giuộc sẽ không bị lôi vào dòng tư tưởng nhỏ bé của các hội viên clb xã Đa Phước.